cho em xin

Xem chủ đề cũ hơn Xem chủ đề mới hơn Go down

cho em xin

Bài gửi  hauka on Fri Aug 12, 2011 3:41 pm

moi nguoi neu co tu lieu ve lich su hinh thanh va phat trien cua Hoi Thanh tai Viet Nam thi post len nha, em dang khao khat co nhung tai lieu lieu lien wan den van de nay.I love you Rolling Eyes Exclamation Exclamation Exclamation

hauka

Tổng số bài gửi : 20
Join date : 03/08/2011

Xem lý lịch thành viên

Về Đầu Trang Go down

Re: cho em xin

Bài gửi  kenny on Sat Aug 13, 2011 8:38 pm

THẾ KỶ XVI
1533. Theo dã sử, vào tháng 3 năm Nguyên Hoà thứ I (1533), một người Âu Châu tên Inêkhu (Ignatius ?) lén đến truyền giáo ở làng Ninh Cường, huyện Nam Chân và làng Trà Lũ, huyện Giao Thuỷ thuộc giáo phận Bùi Chu, tỉnh Nam Định ngày nay (Sách Khâm Định Việt Sử Thông Giám Cương Mục, q. XXXIII, tập II, tr.301, Viện Sử học, NXB Giáo dục 1998).
1550. Linh mục (lm.) Gaspar da Santa Cruz, dòng Đa Minh (OP), từ Malacca đến Hà Tiên truyền giáo, thời đó thuộc Cambodia.
1580-1586. Lm. Luís da Fonseca và Grégoire de la Motte (OP) đến truyền giáo tại Quảng Nam.
1583. Các lm. Bartolomeo Ruiz, Pedro Ortiz, Francisco de Montilla và bốn trợ sĩ dòng Phanxicô từ Phi Luật Tân đến truyền giáo tại miền Bắc.
1591. Lm. Pedro Ordođez de Cevallos ban phép Thánh Tẩy cho công chúa Mai Hoa (Maria Flora). Bà là chị của vua Lê Thế Tông.

THẾ KỶ XVII
1615. (18-1) Đoàn truyền giáo đầu tiên của dòng Tên đến Cửa Hàn, Đà Nẵng do lm. François Buzomi dẫn đầu với lm. Diego Carvalho và 3 trợ sĩ: Antonio Dias, Joseph và Paulo Saito.
1616. Lm. giám tỉnh dòng Tên tại Macao gửi thêm 2 lm. Pedro Marques và Cristoforo Borri tăng cường cho miền Trung. Sau đó thêm 3 lm.: André Fernandes, Francisco de Pina, Francisco Baretto và 1 thầy trợ sĩ người Nhật.
1619. Lm. Pedro Marques, Cristoforo Borri đến Hải Phố (Hội An) gặp lm. Francisco de Pina và lm. Francesco Buzomi, các cha đã họp Hội đồng lần I để phân chia trách nhiệm mục vụ.
1620. Lm. Borri truyền giáo tại Nước Mặn, Bình Định. Ngài rất thông thạo toán học, thiên văn học và gặt hái nhiều thành quả truyền giáo; ngài nghiên cứu môi trường xã hội, văn hoá, tôn giáo. Vì thế, năm 1622, khi trở về Âu Châu, ngài đã cho ấn hành tập Ký sự về Trung Việt bằng tiếng Ý, một tài liệu nghiên cứu giá trị về lịch sử Đại Việt thế kỷ XVII.
1624. Lm. Alexandre de Rhodes (Đắc Lộ), Girolamo Majorica, Gaspar Luís, Gabriel de Mattos, Melchior Ribeiro và Mathias Machida đến Hải Phố để học tiếng Việt với lm. F. de Pina. Ngài cũng chứng kiến lễ ban phép Thánh Tẩy cho bà Minh Đức Vương Thái Phi (1568-1648), vợ lẽ của chúa Nguyễn Hoàng. Bà mang tên thánh là Maria Madalena.
1625. Tháng 12, Sãi Vương Nguyễn Phúc Nguyên ra sắc chỉ cấm người Công giáo Việt Nam không được mang trên mình hoặc treo trong nhà thánh giá và các ảnh tượng. Lm. F. de Pina bị chết đuối tại Cửa Hàn khi đi thăm các thuỷ thủ Bồ Đào Nha. Đây là một thiệt thòi rất lớn, vì ngài rất thông thạo phong tục và ngôn ngữ Việt Nam.
1626. Tháng 3, lm. Giuliano Baldinotti, dòng Tên, đến Đàng Ngoài thăm dò tình hình, rồi trở về Macao. Tháng 7, lm. Đắc Lộ rời Đàng Trong trở về Macao.
1627. (19-3) Cha Đắc Lộ tới Cửa Bạng trong đoàn truyền giáo do lm. Pedro Marques dẫn đầu. Ngày 2-7-1627, họ tới Thăng Long và dâng tặng lễ vật lên chúa Trịnh Tráng.
1628. Ngày 18-6, Trịnh Tráng ra lệnh cấm người Việt Nam không được tiếp xúc với các thừa sai (Tây Dương đạo trưởng). Lúc này tại Đàng Ngoài (miền Bắc), đã có hơn 1.600 Kitô hữu.
1629. Tháng 3, hai lm. Đắc Lộ và Marques bị dẫn độ vào Nam để tìm thuyền trả về Macao. Vì tàu buôn Bồ Đào Nha không đến buôn bán, nên Trịnh Tráng ra lệnh trục xuất các giáo sĩ. Cha Đắc Lộ chọn và huấn luyện Thầy giảng, nhận lời khấn của 3 thầy giảng tiên khởi Việt Nam là: Phanxicô Đức, Inhaxiô Nhuận và Anrê Tri trong thánh lễ tạm biệt.
1630. Tháng 4, lm. Đắc Lộ và các thừa sai dòng Tên bị trục xuất khỏi Đàng Ngoài.
- Một giáo hữu tên thánh Phanxicô, phu khiêng cáng ở triều đình, bị chém đầu vì tội chôn xác người chết. Ông là chứng nhân đức tin đầu tiên của Đàng Ngoài.
- 5.000 tín hữu Bắc Việt đệ trình Tâm thư tỏ lòng trung thành với đức tin và với Đức Thánh Cha Urbanus VIII bằng chữ Hán. Cha Đắc Lộ đã chuyển dịch bức thư này sang tiếng La Tinh và năm 1633, được cha Mutio Vitelleschi, bề trên tổng quyền dòng Tên, đệ trình lên Đức Thánh Cha.
1631. Các lm. António de Torre, Francisco Cardim và Gaspar d’Amaral trở lại Bắc Việt. Trịnh Tráng mong tàu buôn Bồ Đào Nha đến buôn bán nên hoà nhã với các thừa sai.
Tháng 3, các thừa sai dòng Tên gồm 3 cha nói trên trở lại Đàng Ngoài, trong đó lm. Francisco Cardim, người có công ghi chép lại nhiều sự kiện quan trọng về công cuộc truyền giáo ở Đàng Ngoài. Mặc dù vắng bóng các thừa sai, nhưng giáo đoàn vẫn tăng trưởng. Các thầy giảng đã rửa tội được 3.340 tân tòng và xây dựng được 20 nhà nguyện.
1639. Miền Bắc đã có 82.000 tín hữu (căn cứ trên hồ sơ Rửa tội). Miền Trung có khoảng 15.000 giáo dân (theo cha Cardim).
1640. Tháng 2, lm. Đắc Lộ trở lại truyền giáo ở Đàng Trong (Thuận Hoá). Tháng 9, ngài được lệnh rời Quảng Nam trở về Macao, nhưng cha lén trở lại Cửa Hàn ngày 17-12 và tiếp tục hoạt động tại Quảng Nam, Bình Định, Phú Yên, rửa tội được 1.305 tân tòng.
1642. Lm. Đắc Lộ mạo hiểm trở lại Hải Phố, dâng nhiều tặng phẩm lên chúa Thượng (Nguyễn Phúc Lan, 1638-1648), nên được giữ lại để trình bày về thiên văn cho chúa Thượng ban ngày; ban đêm cha lén đào tạo các thầy giảng. Nhưng không được bao lâu, cha lại bị trục xuất. Trong thánh lễ từ biệt, cha nhận lời khấn giữ luật độc thân phục vụ dân Chúa của hơn 10 thầy giảng.
1643. Tất cả các thừa sai đều bị trục xuất.
1644. (26-7) Thầy giảng Anrê Phú Yên tử đạo tại Quảng Nam. Thầy là chứng nhân đầu tiên của Đàng Trong. Lm. Đắc Lộ mạo hiểm cứ ở lại miền Trung, bị bắt, cầm tù và sau đó bị trục xuất. Ngài đã hoàn thành các tài liệu về giảng dạy giáo lý và ban các phép bí tích.
1645. (3-7) Lm. Đắc Lộ bị trục xuất vĩnh viễn khỏi Việt Nam, cha trở về Macao. Ngày 20-12, trên đường về châu Âu, ngài vận động Toà Thánh gửi giám mục sang Việt Nam, ngài đem theo chiếc sọ của thầy giảng Anrê Phú Yên.
1646. Lm. Gaspar d’Amaral từ Macao trở lại Việt Nam với 3 lm.: Pedro Alberto, Ignace Leviski, Francesco Ascanio Ruida. Lúc này miền Bắc đã có 100.000 Kitô hữu.
1650. (2-Cool Tại Roma, cha Đắc Lộ yết kiến Đức Thánh Cha Innocens X (1644-1655) để trình bày về công cuộc truyền giáo tại Việt Nam và thỉnh cầu Toà Thánh đặt hàng giáo phẩm để công cuộc truyền giáo được tiến triển tốt đẹp. Toà Thánh chấp nhận và chọn ngài lên hàng giám mục, gửi ngài trở lại Việt Nam, nhưng ngài khiêm nhường từ chối.
1651. Tại Roma, lm. Đắc Lộ cho xuất bản 3 tác phẩm quốc ngữ đầu tiên, do chính cha biên soạn và nhà xuất bản Đa Ngữ Thánh Bộ Truyền giáo ấn hành:
- Tự điển Việt Bồ La (Dictionarium Annamiticum Lusitanum et Latinum, 5-2-1651)
- Sách văn phạm Việt Nam (Linguae Annamiticae seu Tuchinensis Brevis Declaratio, 5-2-1651).
- Sách giáo lý song ngữ Phép giảng tám ngày (Cathechismus pro iis qui volunt suscipere Baptismum in octo dies divisus, 2-10-1651).
1652. Lm. Đắc Lộ đến Paris, Pháp, vận động hàng giáo sĩ Pháp tình nguyện đi truyền giáo tại Á Đông. Ngài trình bày về công cuộc truyền giáo và ước nguyện của Đức Thánh Cha Innocens X muốn đặt hàng giáo phẩm tại Việt Nam. Một số các giáo sĩ Pháp tình nguyện và Hội Thừa sai Paris bắt đầu manh nha.
1653. Vào tháng 7, kiến nghị xin thiết lập các giáo phận tại Việt Nam được gửi tới Toà Thánh.
1659. (9-9) Đức Thánh Cha Alexander XII ban sắc lệnh thiết lập 2 giáo phận truyền giáo đầu tiên tại Việt Nam:
- Giáo phận Đàng Trong: từ sông Gianh trở vào Nam bao gồm Chiêm Thành và Cao Miên (Cambodia) do Đức giám mục Pierre Lambert de la Motte làm đại diện tông toà.
- Giáo phận Đàng Ngoài: từ sông Gianh trở ra Bắc và miền Nam Trung Hoa do Đức cha François Pallu cai quản.
Tài liệu: “Lịch sử Nước Annam” được viết tay do thầy giảng Bentô Thiện biên soạn, gồm 12 trang khổ 20x29cm. Đây là một tài liệu quý giá về chữ quốc ngữ do chính người Việt sáng tác vào thời phôi thai, minh chứng sự đóng góp to lớn của người Việt với các giáo sĩ Âu Châu trong việc hình thành chữ quốc ngữ. Tài liệu này hiện được lưu trữ tại văn khố dòng Tên ở Roma.
- Ngày 10-11, thành lập Hội Thừa sai Hải ngoại Paris, một hội giáo sĩ thuộc quyền giáo hoàng, không có lời khấn, không có đặc ân miễn trừ.
1660. Lm. Đắc Lộ đã thành công, nhưng giấc mơ trở lại Việt Nam của ngài bất thành. Cuối năm 1654, cha được sai đi truyền giáo tại Ba Tư và đã an nghỉ vĩnh viễn tại Ispahan ngày 5-11-1660. Ngài là một nhà truyền giáo, nhà văn hoá, ngôn ngữ học và có công đầu trong việc sáng tạo ra chữ Quốc ngữ của người Việt Nam.
1662. (22-Cool Giám mục P. Lambert de la Motte đến Thái Lan cùng 2 lm. là Jacques de Bourges và F. Deydier Phan tạm ở tại Ayuthia (cũng gọi Ayutthaya, hay Juthia. Đây là thủ đô của nước Xiêm, Thái Lan ngày nay, từ năm 1350-1767) chờ dịp thuận tiện vào giáo phận Đàng Trong.
1663. (12-11) Những thừa sai dòng Tên cuối cùng bị trục xuất, chấm dứt thời kỳ khai phá của dòng Tên tại Đàng Ngoài. Trong đó có thừa sai Joseph Tissanier là người có công đã ghi chép về công cuộc truyền giáo của dòng ở Đàng Ngoài.
1664. Tháng 7, lm. Louis Chevreuil, đại diện của Giám mục Lambert, tới Đà Nẵng và Huế.
Giám mục François Pallu đến chủng viện Ayuthia (Thái Lan), chờ dịp thuận tiện vào giáo phận Đàng Ngoài.
1665. Chúa Hiền Nguyễn Phúc Tần (1648-1687) duy trì lệnh cấm đạo.
Chỉ còn 3 giáo sĩ dòng Tên: Domenico Fuciti tại triều đình (Thuận Hoá), Pedro Marques tại Hải Phố và F. Ignace Baudet tại Cửa Hàn. Nhưng tháng 2, tất cả các thừa sai dòng Tên bị trục xuất khỏi Đàng Trong, chấm dứt thời kỳ khai phá của dòng Tên ở đây. Tháng 3, cha Chevreuil cũng phải lên tàu về Macao. Tháng 8, linh mục tổng đại diện của Giám mục Lambert de la Motte tới Đàng Trong, bắt đầu thời kỳ của các đại diện tông toà.
1666. Lm. Deydier, tổng đại diện của Giám mục F. Pallu, tới Thăng Long, bắt đầu thời kỳ các đại diện tông toà ở Đàng Ngoài.
1668. Tại chủng viện Ayuthia, 4 lm. Việt Nam đầu tiên được phong chức, đó là:
- Lm. Giuse Trang và Luca Bền, thuộc giáo phận Đàng Trong, được thụ phong vào tháng 3.
- Lm. Bênêdictô Hiền (Bentô Thiện) với lm. Gioan Huệ, thuộc giáo phận Đàng Ngoài, được thụ phong vào tháng 6.
1669. Tháng 7, Giám mục Lambert de la Motte, đại diện tông toà Đàng Trong, giám quản tông toà Đàng Ngoài, thay mặt Giám mục François Pallu (về Roma), tới Thăng Long viếng thăm mục vụ trong y phục một thương gia của công ty Đông Ấn Pháp.
1670. Tháng 2, Giám mục Lambert de la Motte họp Công đồng Đàng Ngoài tại Phố Hiến. Ngài cũng thành lập dòng Mến Thánh Giá và ngày 19-2, ngài rời Phố Hiến về Thái Lan.
1671. (1-9) Giám mục Lambert de la Motte tới Nha Trang để thăm viếng mục vụ Đàng Trong. Ngài cũng thiết lập tại An Chỉ, Quảng Ngãi một tu viện Mến Thánh Giá.
1672. (19-1) Giám mục L. de la Motte họp Công đồng Đàng Trong ở Hội An (Hải Phố) gồm các giáo sĩ, thầy giảng và các đại diện giáo khu. Ngài ở lại Thuận Hoá khoảng 2 tuần, ban phép Thêm sức cho khoảng 4.500 tín hữu, rồi sau đó trở về Thái Lan.
1673. Giám mục François Pallu tìm cách vào giáo phận Đàng Ngoài. Trong chuyến đi, ngài bị bão đánh dạt vào Phi Luật Tân, bị người Tây Ban Nha nghi ngờ ngài là mật thám nên bắt giải về châu Âu.
1675. Giám mục Lambert de la Motte thăm giáo phận Đàng Trong lần II, ban phép Thêm sức cho 10.000 tín hữu; tình hình bắt đạo nghiêm trọng. Ngài để lại 3 giáo sĩ: lm. Bénigne Vachet tại Thuận Hoá, lm. Jean de Courtaulin ở Quảng Ngãi và lm. Gabriel Bouchard tại miền Nam Trung Việt. Ngài trở về Thái Lan và mất tại đây năm 1679, thọ 55 tuổi.
1677. Tại Roma, Đức cha Pallu vận động Toà Thánh chia giáo phận Đàng Ngoài thành 2 giáo phận, lấy sông Hồng làm ranh giới.
1679. Giáo phận Đàng Ngoài (1659) được chia làm hai giáo phận mới: giáo phận Đông Đàng Ngoài từ sông Hồng ra phía biển với tân Giám mục Deydier và giáo phận Tây Đàng Ngoài từ sông Hồng đến biên giới Lào, đặt dưới quyền của Giám mục J. de Bourges.
Giáo phận Đàng Ngoài gồm: 2 giám mục, 7 giáo sĩ thừa sai Pháp, 11 linh mục Việt Nam, nhiều thầy giảng, các nữ tu Mến Thánh Giá và 200.000 tín hữu.
1685. Hai giám mục rời Phố Hiến đến sống tại Thăng Long. Chúa Trịnh Căn (1682-1707) không gây trở ngại cho việc truyền giáo của các ngài, vì chúa đã nhận tặng vật của vua Pháp Louis XIV.
1687. Tại Đàng Trong, chúa Hiền băng hà, chúa Ngãi Nguyễn Phúc Trân (1687-1691) lên nối nghiệp, dời kinh đô về Phú Xuân.
1691. Chúa Ngãi băng hà. Chúa Minh Nguyễn Phúc Chu (1691-1725) nối nghiệp, áp dụng chính sách cấm đạo.
1693. Giám mục Deydier, thuộc giáo phận Đông Đàng Ngoài, qua đời sau 14 năm chăm sóc giáo phận. Giám mục J. de Bourges phải kiêm 2 giáo phận, nhưng vì tình trạng thiếu thừa sai MEP, nên giáo phận Đông Đàng Ngoài từ đây được các linh mục dòng Đa Minh Tây Ban Nha đảm trách.
1694. Lịch sử ghi nhận 2 giáo sĩ dòng Tên Việt Nam tiên khởi: lm. Antong Năng và Linô Lịch.
1698. Toà Thánh bổ nhiệm một linh mục dòng Đa Minh, Raimundo Lezzoli Cao (1648-1706), người Ý, làm giám mục đại diện tông toà Đông Đàng Ngoài.


THẾ KỶ XVIII
1702. (2-2) Giám mục Lezzoli được tấn phong tại Kẻ Sở. Ngài là vị giám mục dòng Đa Minh tiên khởi trên đất Việt, chăm sóc giáo phận Đông Đàng Ngoài.
1704. Chúa Minh Nguyễn Phúc Chu (1691-1725) đình chỉ việc cấm đạo vì quý mến một giáo sĩ dòng Tên Tây Ban Nha, lm. Juan Antonio Arnedo, ngài là nhà thiên văn giỏi và là thầy thuốc riêng của chúa tại kinh đô.
1712. Các thừa sai Pháp, với tư cách là các thương gia đại diện Công ty Đông Ấn Pháp ở Phố Hiến, bị trục xuất.
1723. Ở giáo phận Tây Đàng Ngoài, hai linh mục dòng Tên người Ý Johann Baptist Messari và F.M. Buccharelli bị bắt: lm. Messari chết trong tù (23-6-1723) và lm. Buccharelli bị chém đầu (11-10-1723). Đây là hai linh mục thừa sai ngoại quốc đầu tiên bị hành quyết ở Việt Nam.
1724. Dưới thời chúa Minh, Giáo hội Đàng Trong được tạm thời bình an. Giáo phận có khoảng 300 nhà thờ với hơn 70.000 tín hữu. Riêng kinh đô Phú Xuân có 29 thừa sai ngoại quốc: 12 cha dòng Tên, 9 cha dòng Phanxicô, 6 thừa sai Pháp và 2 thừa sai Ý. Giáo phận còn có hơn 200 thầy giảng hoạt động hăng say trong cánh đồng truyền giáo.
1737. (12-1) Thêm bốn linh mục dòng Tên bị hành quyết, tại Đồng Mơ, ngoại thành Thăng Long: cha E. d’Abreu, Bart. Alvarez, Vicenté da Cunha (người Bồ Đào Nha) và cha Gaspar Cratz (người Đức).
1745. (22-1) Hai thừa sai dòng Đa Minh người Tây Ban Nha tử đạo: Francesco Gil de Federich Tế và Matteo Alonso Liciniana Đậu bị xử trảm thời Trịnh Doanh.
1748. Khi chúa Trịnh Sâm đi xem các chiến lợi phẩm, gặp chữ Hà Lan trên một ống súng, nhà chúa ra lệnh đi tìm các giáo sĩ ngoại quốc để giải nghĩa cho chúa. Giáo sĩ dòng Tên Wenzel Paleczeck Đẩu (người Đức) hiểu tiếng. Lúc này, cha đang còn đang lẩn trốn trên đất Bắc, được tìm thấy, đã đọc và cắt nghĩa cho chúa Trịnh. Nhà chúa hiểu và hài lòng nên ra lệnh đình chỉ việc cấm đạo.
1750. (27-Cool Võ Vương Nguyễn Phúc Khoát (1738-1750) trục xuất tất cả các thừa sai ngoại quốc ra khỏi Đàng Trong, chỉ trừ một hai tu sĩ dòng Tên được phép ở lại phục vụ trong triều đình.
1757. Toà Thánh bổ nhiệm giám mục đại diện tông toà: Đức cha Santiago Hernández Tuấn, O.P. (1757-1777) và từ đây giáo phận Đông Đàng Ngoài hoàn toàn do các tu sĩ Đa Minh Tây Ban Nha đảm trách.
1771. Giám mục Pigneau de Béhaine (Bá Đa Lộc) làm đại diện tông toà tại Đàng Trong (1771-1799).
1773. (7-11) Hai giáo sĩ: Jacinto Casteđada Gia (Tây Ban Nha) và Vinh Sơn Lê Quang Liêm bị xử trảm theo lệnh chúa Trịnh Sâm.
1777. Anh em nhà Tây Sơn chống chúa Nguyễn vì đại thần Trương Phúc Loan tại kinh đô Phú Xuân lạm quyền và tàn ác. Ông Loan đã đổi di chiếu, lập con thứ 16 của chúa Võ Nguyễn Phúc Khoát (1738-1765) là chúa Định Nguyễn Phúc Thuần (1765-1777) mới 12 tuổi lên nối ngôi, để dễ bề chuyên quyền. Ông bắt giam Hiếu Khương Vương, con thứ 2 của chúa Võ, theo di chiếu sẽ lên nối ngôi. Hiếu Khương Vương đã chết trong tù, để lại hai người con là Nguyễn Phúc Đống và Nguyễn Ánh.
Nguyễn Ánh chạy trốn vào Nam, chiêu mộ binh lính nhằm tái lập vương nghiệp.
Lm. Pigneau de Béhaine được tấn phong giám mục năm 1774, tại Madras, Ấn Độ. Đức cha đến Macao năm 1775 và tìm cách vào Nam Việt. Được lời mời của trấn thủ Hà Tiên, Mạc Thiên Tứ, người Trung Hoa, ngài đã lập một họ đạo trong phần đất mà quan trấn thủ tặng. Nguyễn Ánh đã ẩn trốn trong ngôi nhà quan trấn thủ.
1779. Nguyễn Ánh sinh được một người con trai là hoàng tử Cảnh. Ông xin giám mục Pigneau de Béhaine làm Thái phó.
Dưới thời Tây Sơn, tình hình Giáo hội Việt Nam rất khó khăn, do có nhiều biến động và bất ổn. Vì tình thế đòi hỏi, Đức cha Pigneau đã cố gắng gửi 4 thừa sai vào Trung Việt. Ngài đã chọn và phong thừa sai Jean Labartette làm giám mục phó. Đồng thời, ngài cũng dời toà giám mục từ Hà Tiên về Biên Hoà.
Nguyễn Ánh không muốn trở lại đạo Công giáo, nhưng thường tham dự thánh lễ do giám mục dâng và nhờ có nhiều dịp tiếp xúc với ngài, nên chúa cũng bỏ được nhiều thành kiến không hay về đạo Công giáo.
1780. Nguyễn Ánh xưng vương và nhất tâm trấn giữ Gia Định.
1782. Vua Tây Sơn Nguyễn Nhạc cùng Nguyễn Huệ đem quân từ Quy Nhơn vào đánh và chiếm lại Gia Định. Nguyễn Ánh bỏ Gia Định trốn ra đảo Phú Quốc. Đức cha Pigneau và các thừa sai phải trở lại Hà Tiên.
1783. Quân Tây Sơn trấn thành Gia Định, rồi đem quân đuổi theo Nguyễn Ánh tại đảo Phú Quốc. Nguyễn Ánh thua, phải rút quân ra đảo Côn Sơn, đợi dông bão để trốn chạy vào vịnh Thái Lan. Giám mục Pigneau đề nghị Nguyễn Ánh cầu viện với vua Pháp, Louis XVI, sau khi nhận thấy không thể cầu viện với Bồ Đào Nha và Anh được.
1784. Giám mục Pigneau đem hoàng tử Cảnh và phái đoàn của chúa Nguyễn sang Pháp cầu viện. Chúa Nguyễn cũng giao quốc ấn và uỷ toàn quyền cho Đức cha Pigneau thương nghị với Pháp. Còn Đức cha, vì hy vọng về sau Nguyễn Ánh sẽ dễ dàng chấp thuận cho các thừa sai được tự do truyền giáo nên ngài cũng tha thiết, tận tình giúp chúa Nguyễn.
1787. (28-11) Giám mục Pigneau, đại diện uỷ quyền của Nguyễn Phúc Ánh, ký hiệp ước Versailles.
1788. Nhờ sự tận tâm của tướng Võ Tánh, Nguyễn Ánh đã chiếm lại được thành Gia Định.
1789. Tháng 7, chiến thuyền Méduse tiến vào Vũng Tàu, trên đó có Giám mục Pigneau, hoàng tử Cảnh và còn kèm theo mấy chiến thuyền, đạn dược do Đức cha vận động ở Pondichéry gửi giúp chúa Nguyễn Ánh. Ngoài ra, còn có các ông: Chaigneau, Vannier, Forçant và Olivier là những cố vấn quân sự đi theo.
1798 Ở kinh đô Phú Xuân, vua Cảnh Thịnh chính thức ra lệnh cấm đạo, vì năm 1797 triều đình Tây Sơn đã bắt được mật thư của Nguyễn Ánh gửi cho giám mục Labartette tại Huế. Do thư này, vua Cảnh Thịnh nghi ngờ người Công giáo có âm mưu nổi loạn chống Tây Sơn. Hậu quả của lệnh cấm đạo này: ngày 17-9, lm. Emmanuel Nguyễn Văn Triệu và ngày 28-10, lm. Gioan Đạt bị xử trảm do lệnh vua Cảnh Thịnh.
1798-1800. Ngày 9-10-1799, Giám mục Pigneau từ trần tại Quy Nhơn. Thời vua Cảnh Thịnh là một thời kỳ gian khó của Giáo hội Công giáo: cấm cách, bắt bớ và bách hại. Giáo dân đã chạy vào La Vang, là nơi rừng hoang, nước độc, cách Quảng Trị khoảng 6 cây số để trốn tránh. Với tất cả lòng tin tưởng, tín hữu nguyện cầu cùng Trinh Nữ Maria, Mẹ đã hiện ra an ủi, nâng đỡ đoàn con đau khổ trong thử thách vì đức tin. Từ đây, Linh địa La Vang đi vào lịch sử Giáo hội Việt Nam.
Tóm lại:
Thời các chúa Trịnh, từ Trịnh Tạc (1657-1682) đến Trịnh Sâm (1767-1782) tại đất Bắc; chúa Nguyễn, từ Nguyễn Phúc Lan (1635-1648) đến Nguyễn Phúc Thuần (1765-1777) và vua Cảnh Thịnh (1782-1802): có ước chừng hơn 30.000 chứng nhân đã anh dũng lấy máu đào tuyên xưng đức tin.
THẾ KỶ XIX
1802. Nguyễn Ánh thắng Tây Sơn, lên ngôi lấy niên hiệu là Gia Long, 1802-1820, thống nhất sơn hà, đặt quốc hiệu là Việt Nam, chọn Phú Xuân (Huế) làm kinh đô. Vì nhớ công Giám mục Pigneau, vua Gia Long không bách hại đạo, nhưng nhà vua cũng không nâng đỡ đạo. Do đó, Giáo hội Việt Nam được một thời gian ngắn bình an và phát triển.
1803. Giám mục Labartette họp tất cả các giáo sĩ tại Huế, thảo luận phương thức hoạt động truyền giáo. Thống kê lúc đó ghi nhận:
- Giáo phận Đông Đàng Ngoài: l giám mục, 41 linh mục Việt Nam, 4 thừa sai và 140.000 tín hữu.
- Giáo phận Tây Đàng Ngoài: 1 giám mục, 65 linh mục Việt Nam, 5 thừa sai và 120.000 tín hữu.
- Giáo phận Đàng Trong: 1 giám mục, 65 linh mục Việt Nam, 5 thừa sai và 60.000 tín hữu.
1820. Vua Minh Mạng (Thánh Tổ Nhân Hoàng Đế, 1820-1841), nối nghiệp Gia Long. Ông chịu ảnh hưởng các vua Trung Hoa và Nhật Bản, nên cai trị nước bằng chính sách bế quan toả cảng.
1822. Nhân kỷ niệm sinh nhật nhà vua, Đức cha Labartette đến Huế, xin yết kiến, dâng lễ vật mừng. Vua Minh Mạng nhận lễ vật, nhưng từ chối gặp Đức cha.
1825. Vua Minh Mạng ra chỉ dụ cấm đạo gồm 2 điểm:
- Cấm tất cả các giáo sĩ ngoại quốc theo tàu buôn vào Việt Nam.
- Tập trung tất cả các giáo sĩ ngoại quốc vào những địa điểm chỉ định để kiểm soát.
1833. (6-1) Chỉ dụ cấm đạo của vua Minh Mạng.
(5-7) Lê Văn Khôi khởi binh tại Gia Định.
1835. Ngày 8-9, thành Phiên An bị quân triều đình đánh chiếm, lm. Joseph Marchand Du bị bắt đem về Huế và lm. Giuse Phước, cha sở Chợ Quán, bị hành quyết tại chỗ.
1838. Đây là lần thứ tư vua Minh Mạng ra chiếu chỉ cấm đạo (1825-1833-1836).
* Lúc này, Trung Hoa thất trận với các cường quốc châu Âu, vua Minh Mạng đổi đường lối chính trị, ngoại giao, nên cử phái bộ Phan Thanh Giản sang Pháp thương thuyết, nhưng vua Pháp, Louis Philippe, từ chối tiếp phái bộ.
1840. Giáo phận Đàng Trong, dù trong 10 năm cấm cách, bách hại, số tín hữu vẫn tăng lên đến 75.000 (năm 1830 là 60.000).
Phái bộ ngoại giao Phan Thanh Giản thất bại trở về nước, vua Minh Mạng duy trì cấm đạo tàn khốc vào cuối đời.
1841. (21-1) Vua Minh Mạng băng hà (1820-1841). Vua Thiệu Trị (Hiến Tổ Chương Hoàng Đế, 1841-1847) lên nối ngôi và ban lệnh ân xá cho tất cả các tù nhân không Công giáo cũng như Công giáo đều được trở về quê hương. Nhà vua không bắt đạo gắt gao, nhưng cũng không huỷ bỏ những chỉ dụ cấm đạo. Nhà vua cai trị một thời gian ngắn ngủi, rồi băng hà lúc 37 tuổi.
Giám mục Etienne Théodore Cuénot Thể họp Công đồng các linh mục tại Gò Thị, Bình Định. Ngài chú tâm tới việc truyền giáo, huấn luyện và nâng cao trình độ cho hàng giáo sĩ.
1843. (15-3) Năm thừa sai Pháp bị giam giữ ở Huế được dẫn độ vào cảng Đà Nẵng trao trả cho tàu L’Héroine gồm: thừa sai Berneux và Galy bị bắt ở Phúc Nhạc (11-4-1841), thừa sai Charrier ở Bàu Nọ (5-10-1841), thừa sai Duclos Lộ và J.C. Miche Mịch ở Phú Yên (2-5-1842).
1844. (17-5) Đức Thánh Cha Gregorius XVI phân chia giáo phận Đàng Trong thành hai giáo phận mới: giáo phận Tây Đàng Trong (Sài Gòn) gồm lục tỉnh Nam Kỳ và Cao Miên, đặt Đức cha D. Lefèbvre Ngãi chăm sóc và giáo phận Đông Đàng Trong (Quy Nhơn) dưới quyền hướng dẫn của Giám mục Cuénot Thể.
(31-10) Giám mục Lefèbvre bị bắt tại Cái Nhum và bị giải về Huế.
1845. (15-4) Giám mục Lefèbvre được trao trả cho tàu Alemène.
1846. (27-3) Giáo phận Tây Đàng Ngoài được chia làm hai: giáo phận Tây Đàng Ngoài (Hà Nội) được Giám mục P.A. Retord Liêu cai quản và giáo phận Nam Đàng Ngoài (Vinh, Nghệ An) do Giám mục J.D. Gauthier Hậu quản trị.
(7-6) Thuyền chở Giám mục Lefèbvre, từ Singapore về, bị bắt tại cửa Cần Giờ: ngài được giải về Sài Gòn. Thừa sai Duclos chết trong khi bị giam. Chủ thuyền Lê Văn Gẫm và những người cùng đi bị bắt và bị tống giam tại Sài Gòn.
1847. (15-4) Tàu Pháp bắn phá cảng Đà Nẵng.
(3-5) Vua Thiệu Trị ban hành lệnh chống Công giáo.
(4-11) Vua Thiệu Trị băng hà. Tự Đức, hiệu Dục Tông Anh Hoàng Đế (1847-1883) lên nối ngôi, bắt đầu một trang sử mới.
1848. Giáo phận Đông Đàng Ngoài được chia thành hai giáo phận: Giáo phận Đông Đàng Ngoài và Trung Đàng Ngoài (Bùi Chu) gồm hai tỉnh Nam Định và Hưng Yên, do Đức cha Domingo Marti Gia chăm sóc.
Vua Tự Đức ra chỉ dụ cấm đạo Giatô lần I. Chỉ dụ truyền khắc hai chữ “tả đạo” vào má các tín hữu trung kiên, rồi đẩy họ vào những nơi rừng thiêng nước độc.
Tháng 3, Hồng Bảo, anh cả của vua Tự Đức, âm mưu chiếm đoạt ngai vàng.
Tháng 7, vua Tự Đức ban hành chỉ dụ truy lùng các đạo trưởng ngoại quốc.
1850. Toà Thánh chia giáo phận Đông Đàng Trong làm hai: giáo phận Bắc Đàng Trong gồm một phần của tỉnh Quảng Bình, Quảng Trị và Thừa Thiên, đặt Giám mục F.M. Pellerin Phan cai quản và giáo phận Đông Đàng Trong từ Đà Nẵng, Quy Nhơn đến Phan Thiết. Giáo phận Tây Đàng Trong chia hai: giáo phận Nam Vang gồm nước Cambodia và các tỉnh phía Nam Hậu Giang của Việt Nam, trao cho Giám mục Jean Claude Miche Mịch lãnh đạo. Giáo phận Tây Đàng Trong từ Đồng Nai đến Vĩnh Long do Giám mục Lefèbvre coi sóc.
1851. Cuối tháng Giêng, Hồng Bảo bị bắt quả tang lên thuyền nước ngoài trốn thoát, được ân giảm.
1852. Do chiếu chỉ của vua Tự Đức, các thừa sai và giáo sĩ bị truy lùng gắt gao, giam cầm, tra tấn…
Nhưng vì thiên tai, đại hạn, bão lụt… nhà vua tạm thời ngưng cuộc bách hại tại miền Bắc (1852-1855).
1853. Tại miền Nam, tình hình bắt đạo vẫn gay gắt.
1854. Tháng 3, âm mưu trốn ra nước ngoài của Hồng Bảo lại bị bại lộ. Ông bị bắt và thắt cổ chết trong tù.
(18-9) Chỉ dụ chống Công giáo được ban bố với những hình phạt nặng nề hơn.
1855. Tháng 9, vua Tự Đức ra lệnh cấm đạo lần III. Chỉ dụ này ra án: các Tây Dương đạo trưởng, bị bắt sẽ phải chịu chém, bêu đầu ba ngày ở những nơi công cộng và bị quăng xác xuống biển.
1856. (25 đến 26-9) Tàu Pháp bắn phá cảng Đà Nẵng làm vua Tự Đức nổi giận.
1857. Vua Tự Đức ra chiếu chỉ cấm đạo lần IV vào ngày 7-5-1857.
1858. Chiến tranh giữa Pháp, Tây Ban Nha và Việt Nam bùng nổ. Hải quân của liên quân chiếm Cửa Hàn. Tình hình chính trị và tôn giáo càng thêm khó khăn.
1859. Liên quân Pháp-Tây Ban Nha tiến vào cửa Cần Giờ, bắn phá và tiến chiếm Gia Định (Sài Gòn) ngày 17-2.
1860. Tháng 4, các nữ tu dòng Saint Paul de Chartres từ Hồng Kông đến Sài Gòn.
1861. Pháp chiếm thành Kỳ Hoà, mở rộng vòng kiểm soát tới Biên Hoà, Tây Ninh, Mỹ Tho, Vĩnh Long. Triều đình cử phái bộ Phan Thanh Giản và Lâm Duy Nghiệp vào Gia Định để nghị hoà. Trong tình hình nội trị bất ổn, ngoại giao không mấy kết quả, triều đình càng căm thù và ra tay giết hại các tín hữu.
Vào cuối tháng 3, các tín hữu tại Ba Giồng và Hữu Đạo bị sát hại tập thể.
Tháng 7, nhà vua ban hành lệnh phân tháp (phân sáp) người Công giáo vào các làng không Công giáo.
Tháng 12: những vụ sát hại tập thể các giáo hữu tại Biên Hoà và Bà Rịa.
1862. Hoà ước Nhâm Tuất có khoản quy định về tự do tôn giáo, nhưng vua Tự Đức vẫn duy trì việc cấm đạo.
Những vụ sát hại tập thể ở Nam Định và Hưng Yên. Ở Biên Hoà: những vụ hỗn loạn, đốt phá, sát hại tại Long Thành, Tân Triều, Búng, Thủ Ngữ, Trảng Bàng, Trảng Thơm và Gò Sầm.
Tổng kết: Ba triều vua Minh Mạng, Thiệu Trị và Tự Đức có hơn 40.000 nhân chứng đức tin.
1863. Tháng 4, tại kinh đô Huế cử hành lễ trao đổi các bản văn của hoà ước Nhâm Tuất. Giám mục J.H. Sohier Bình, đại diện tông toà Bắc Đàng Trong (giáo phận Huế ngày nay), lần đầu tiên xuất hiện tại sứ quán ở kinh thành Huế.
Vào tháng 5, các nữ tu dòng Kín Carmel Lisieux, Pháp, đến Sài Gòn.
Tháng 6, triều đình cử phái bộ Phan Thanh Giản sang Pháp nghị hoà lần II về việc chuộc lại 3 tỉnh miền Đông Nam Bộ đã nhượng cho Pháp theo hoà ước Nhâm Tuất. Trong phái bộ, có chủng sinh Phaolô Nguyễn Hoàng (giáo phận Nam Đàng Ngoài) là thông dịch viên của triều đình, Petrus Trương Vĩnh Ký là thông dịch viên do Thống soái Pháp ở Sài Gòn cử đi.
Nguyễn Trường Tộ, một nhân sĩ Công giáo, quê ở Bùi Chu (xã Hưng Tây, huyện Hưng Nguyên, tỉnh Nghệ An ngày nay) dâng lên triều đình ba bản điều trần đầu tiên: Trần tình khải, Thiên hạ đại thế luận, Giáo môn luận và Tế cấp bát điều.
1864. Tháng 7, khánh thành nguyện đường dòng Thánh Phaolô (4 Tôn Đức Thắng, TP. Hồ Chí Minh ngày nay).
1866. Tháng 9, Giám mục Gauthier Ngô Gia Hậu, đại diện tông toà Nam Đàng Ngoài, và Nguyễn Trường Tộ được vua Tự Đức cử đi Pháp mời thầy dạy và mua trang thiết bị xây trường kỹ thuật.
1867. Tháng 6, Pháp chiếm ba tỉnh miền Tây Nam Bộ. Phong trào Văn Thân bắt đầu ở Nghệ An và Nam Định.
1868. Tháng 3, Đức cha Gauthier, Nguyễn Trường Tộ và các giáo sư được mời về tới Huế.
Tháng 4, phong trào Văn Thân chống Pháp và bài Công giáo hoạt động mạnh.
1869. Vua Tự Đức ra hai chỉ dụ tha việc cấm đạo:
- Chỉ dụ 1: cho phép lập làng Công giáo.
- Chỉ dụ 2: người Công giáo được tự do hành đạo và cử hành các nghi thức tôn giáo.
1873. Tháng 11, quân Pháp chiếm Hà Nội lần I với một số tỉnh ở vùng đồng bằng sông Hồng. Ngày 21-12, Francis Garnier tử trận.
1874. Tháng Giêng, Pháp bắt đầu rút quân. Phong trào Văn Thân hoạt động mạnh trở lại ở Nam Định, Ninh Bình, rồi Thanh Hoá, Nghệ An, Hà Tĩnh.
Hoà ước Giáp Tuất (15-3-1874) chấp nhận nhượng sáu tỉnh Nam Kỳ cho Pháp. Hoà ước gồm 20 khoản, mà 9 khoản đề cập đến vấn đề tự do tôn giáo.
1882. Tháng 4, đại tá Henri Rivière được lệnh đem quân ra Bắc Kỳ lần II: ngày 25-4, quân Pháp chiếm Hà Nội. Tổng đốc Hà Nội là Hoàng Diệu thắt cổ tự vẫn. Sau đó, Henri Rivière đem quân vào chiếm đóng kinh thành Huế.
1883. (22-2) Rivière chiếm đóng Hòn Gai.
(27-3) Rivière chiếm Nam Định.
(19-5) Rivière tử thương. Phong trào Văn Thân lại trỗi dậy mạnh mẽ.
(19-7) Vua Tự Đức băng hà.
(23-7 âl.) (25-8 dl.) Hoà ước Quý Mùi: khâm sai Trần Đình Trực và Nguyễn Trọng Hợp, thay mặt triều đình Huế, ký với toàn quyền, đại diện Pháp, Jules Harmand, nhận sự bảo hộ của Pháp và việc ngoại giao của Việt Nam phải chịu sự chi phối của Pháp. Hoà ước gồm 27 khoản, không nhắc tới vấn đề tôn giáo.
Toà Thánh thiết lập giáo phận Bắc (Bắc Ninh), tách từ giáo phận Đông (Hải Phòng), gồm các tỉnh Bắc Ninh, Thái Nguyên, Lạng Sơn và Cao Bằng, do Đức cha A. Colomer Lễ đảm trách.
Vua Hiệp Hoà lên nối ngôi được 4 tháng. Ông bị ép uống thuốc độc chết.
(7-10) Vua Kiến Phúc, 15 tuổi, lên nối ngôi. Mọi quyết định đều nằm trong tay hai đại thần: Nguyễn Văn Tường và Tôn Thất Thuyết.
1884. (6-6) Hoà ước Giáp Thân được ký giữa Nguyễn Văn Tường và Patenôtre: bổ túc cho hoà ước Quý Mùi. Điểm chính của hoà ước này là Chính phủ Pháp bảo hộ Bắc Kỳ, lục tỉnh Nam Kỳ là thuộc địa Pháp và Trung Kỳ thuộc quyền cai trị của triều đình Huế. Nhưng thực chất, triều đình chỉ còn hư vị. Hoà ước này cũng huỷ bỏ hiệu lực của hoà ước 15-3-1874, nhưng vẫn giữ lại những cam kết của triều đình liên quan đến mặt tôn giáo.
Vua Kiến Phúc nối ngôi được 6 tháng, thì nhuốm bệnh và băng hà. Vua Hàm Nghi mới 12 tuổi được đặt lên kế vị.
1885-1886. Phong trào Văn Thân nổi lên khắp nước vì phẫn nộ với người Pháp xâm chiếm Việt Nam. Người Công giáo lại bị bắt bớ, tàn sát dã man vì bị coi là theo thực dân Pháp.
- Binh lính triều đình Huế tấn công đồn Pháp thất bại.
- Vua Hàm Nghi và một số triều thần rời kinh thành, vào rừng lập chiến khu, kêu gọi Cần Vương. Sĩ phu khắp nơi hưởng ứng, đứng lên chống Pháp và chống Công giáo. Nhiều cuộc tàn sát lẫn nhau giữa người Việt với người Việt, nhất là trong những vùng hoạt động của phong trào Văn Thân như: Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Trị Thiên, Nghệ Tĩnh, Thanh Hoá, Nam Định, Ninh Bình…
1890. Việt Nam có 708.000 tín hữu.
1895. (15-4) Giáo phận Hưng Hoá được thiết lập gồm các tỉnh: Sơn Tây, Yên Bái, Hoà Bình, Lai Châu và được đặt dưới quyền điều khiển của Giám mục Paul Marie Raymond Lộc.

THẾ KỶ XX
1902. Thành lập giáo phận Xứ Thanh (gồm Phát Diệm và Thanh Hoá từ giáo phận Tây Đàng Ngoài).
1909. (12-6) Ba linh mục của giáo phận Vinh bị mật thám Pháp bắt, đày đi Côn Đảo vì tham gia chống Pháp: Đậu Quang Lĩnh, Thư ký toà giám mục; Nguyễn Thần Đồng, quản xứ nhà thờ chính toà Vinh; Nguyễn Văn Tường, quản lý nhà chung Xã Đoài.
1913. (31-12) Thành lập Phủ doãn Tông toà Lạng Sơn, Cao Bằng; năm 1939 được nâng lên thành giáo phận Lạng Sơn.
1924. Từ ngày 3-12: tên gọi mới cho các giáo phận là tên của nơi đặt toà giám mục như giáo phận Hưng Hoá (thay vì Xứ Đoài), Phát Diệm (thay vì Xứ Thanh).
1925. (20-5) Lập toà Khâm sứ Toà Thánh tại Việt Nam (gồm cả Thái Lan, Cam Bốt và Ai Lao); trụ sở trước hết đặt tại Huế, (1951) dời ra Hà Nội và (1959) chuyển vào Sài Gòn.
1932. (18-1) Thành lập giáo phận Kontum.
(7-5) Thành lập giáo phận Thanh Hoá, tách từ giáo phận Phát Diệm.
1933. (11-6) Đức cha Gioan Baotixita Nguyễn Bá Tòng, giám mục tiên khởi Việt Nam, được Đức Thánh Cha Pius XI tấn phong tại Đền thờ Thánh Phêrô, Vatican.
1934. Công đồng Đông Dương tiên khởi tại Hà Nội.
1935. (29-6) Đức cha Đôminicô Hồ Ngọc Cẩn, giám mục thứ hai của Việt Nam, được tấn phong.
1936. (9-3) Thành lập giáo phận Thái Bình.
1938. (8-1) Thành lập giáo phận Vĩnh Long do Đức cha Phêrô Ngô Đình Thục đảm nhận.
1945. (19-Cool Cách mạng Tháng Tám thành công.
(2-9) Tuyên ngôn độc lập và thành lập nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà.
(23-9) Nam Bộ kháng chiến.
1954. (21-7) Hiệp định đình chiến tại Genève chia đôi nước Việt Nam ở vĩ tuyến 17; cuộc di cư của gần 1 triệu người miền Bắc vào miền Nam; các giáo phận miền Nam phát triển nhanh chóng.
1955. (20-9) Thành lập giáo phận Cần Thơ.
1957. (5-7) Thành lập giáo phận Nha Trang.
1959. (25-1) Đức Thánh Cha Gioan XXIII loan báo sẽ triệu tập Công đồng Vatican II.
1960. (24-11) Thành lập Hàng Giáo phẩm Việt Nam; các giáo phận hiệu toà trở thành chính toà với 3 toà Tổng giám mục ở Hà Nội, Huế và Sài Gòn. Thành lập các giáo phận Đà Lạt, Mỹ Tho và Long Xuyên.
1963. (18-1) Thành lập giáo phận Đà Nẵng.
1965. (14-10) Thành lập các giáo phận Phú Cường và Xuân Lộc.
1967. (22-6) Thành lập giáo phận Ban Mê Thuột.
1974. Tháng 10, Tgm phó Hà Nội Giuse Maria Trịnh Văn Căn lần đầu tiên tham dự Thượng Hội đồng Giám mục Thế giới về Truyền giáo và có dịp gặp các giám mục miền Nam Việt Nam.
1975. (31-1) Thành lập giáo phận Phan Thiết; miền Nam có tất cả 15 giáo phận.
(25-4) Toà Thánh bổ nhiệm Giám mục Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Thuận làm Tổng giám mục phó giáo phận Sài Gòn.
(30-4) Kết thúc chiến tranh, đi đến thống nhất đất nước.
(10-7) Báo Công giáo và Dân tộc ra mắt bạn đọc.
(27-7) Đại hội Mặt trận Dân tộc Giải phóng Thành phố Hồ Chí Minh.
Tháng 8, Đức Khâm sứ Toà Thánh Henri Lemaỵtre rời khỏi Việt Nam.
(15-11) Thống nhất đất nước: Từ 15 đến 21-11, Hội nghị Hiệp thương Thống nhất Tổ Quốc họp tại Dinh Độc Lập Sài Gòn.
(15-12) Hội đồng Giám mục miền Nam họp tại Trung tâm Công giáo.
(31-12) Thủ Tướng Phạm Văn Đồng tiếp phái đoàn Giám mục miền Bắc.
1976. (5-2) Tổng điều tra dân số: cả nước có 47.149.900 người.
(11-7) Thành phố Sài Gòn đổi tên là TP. Hồ Chí Minh. Tổng giáo phận Sài Gòn cũng đổi thành Tổng giáo phận TP. Hồ Chí Minh (23-11-1976).
(14-12) Đại hội Đảng Lao động Việt Nam lần IV, đổi tên Đảng thành Đảng Cộng Sản Việt Nam và ông Lê Duẩn được bầu lại làm Tổng Bí thư.
1977. (2-5) Các giám mục Thành phố Hồ Chí Minh họp tại Trung tâm Công giáo.
(10-9) Hồng y Giuse Maria Trịnh Như Khuê và Tgm. Phaolô Nguyễn Văn Bình đi Roma tham dự Hội nghị các Giám mục Thế giới.
(11-11) Nhà nước ban hành Nghị quyết 297 về chính sách tôn giáo.
1979. (13-7) Thư ngỏ của các giám mục thuộc Tổng giáo phận TP. HCM gửi cho các tín hữu Công giáo trên thế giới về vấn đề di tản.
1980. (17-1) Lễ ra mắt Uỷ ban Vận động người Công giáo Xây dựng và Bảo vệ Tổ quốc Thành phố Hồ Chí Minh. Và ngày 26-1 báo Công giáo và Dân tộc được quyết định trở thành cơ quan ngôn luận của Uỷ ban.
(24-4 đến 1-5) Đại Hội đồng Giám mục Việt Nam đầu tiên họp tại thủ đô Hà Nội. Hội đồng đã ra Thư Chung 1980 khẳng định đường hướng mục vụ: “Sống Phúc Âm giữa lòng dân tộc để phục vụ hạnh phúc của đồng bào”.
(17-6) Đoàn giám mục Việt Nam thứ nhất do Hồng y Giuse Maria Trịnh Văn Căn dẫn đầu đi «ad limina», đoàn thứ nhì do Tổng giám mục Phaolô Nguyễn Văn Bình dẫn đầu (9-9).
(18-12) Quốc hội khoá VI, kỳ họp thứ 7, thông qua hiến pháp mới của Việt Nam.
1981. (1-5) Hội đồng Giám mục họp thường niên tại Hà Nội.
1982. (10-5) Tgm. Phaolô Nguyễn Văn Bình và Giám mục Giuse Nguyễn Tùng Cương đi Mockba (Matxcơva) tham dự Hội nghị những nhà tôn giáo bảo vệ sự sống khỏi thảm hoạ hạt nhân, do Giáo hội Chính thống Nga tổ chức. Tổng giám mục Phaolô Nguyễn Văn Bình đã đọc tham luận trong Hội nghị.
1983. Từ ngày 6 đến 11-5. Đại Hội đồng các Giám mục Việt Nam lần II tại Hà Nội: gồm 29 tham dự viên, 1 hồng y, 2 tổng giám mục và 26 giám mục thuộc 24/25 giáo phận trên toàn quốc đến tham dự.
1984. (2-9) Báo Chính Nghĩa, cơ quan của Uỷ ban liên lạc Công giáo toàn quốc được đổi tên thành báo Người Công giáo Việt Nam và là cơ quan của Uỷ ban Đoàn kết Công giáo Yêu nước Việt Nam, ra số đầu tiên tại Hà Nội ngày 2-9-1984.
1985. (6-3) Uỷ ban Vận động Công giáo TP. HCM đổi thành Uỷ ban Đoàn kết Công giáo Yêu nước TP. HCM, do lm. Võ Thành Trinh làm Chủ tịch.
1986. Từ 10 đến 18-5: Hội đồng Giám mục Việt Nam họp Đại hội lần III tại Hà Nội. 28 giám mục tham dự bầu Ban Thường vụ mới của HĐGM Việt Nam.
(15-12) Đại hội Đảng Cộng sản toàn quốc lần VI tại Hà Nội. Ông Nguyễn Văn Linh được bầu làm Tổng Bí thư thay ông Trường Chinh; công cuộc đổi mới ở Việt Nam bắt đầu.
1987. (9-2) Đại chủng viện Thánh Giuse TP. HCM khai giảng trở lại sau 5 năm tạm ngưng.
(24-11) Đoàn đại biểu Giáo hội Chính Thống Nga thăm giáo phận TP. Hồ Chí Minh.
1988. (22-3) Quần thể kiến trúc nhà thờ Phát Diệm được Bộ Văn hoá công nhận là một công trình kiến trúc văn hoá quốc gia.
(19-6) Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II tuyên thánh cho 117 chứng nhân Việt Nam.
1989. (6-1) Đoàn đại diện Hội đồng Giám mục Hoa Kỳ thăm Hà Nội và TP. HCM.
(27-3) Phó Tgm. Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Thuận đi Roma.
(1-4) Kết quả chính thức cuộc tổng điều tra dân số toàn quốc vào thời điểm 0 giờ ngày 1-4-1989: dân số Việt Nam là 64.318.352 người, trong đó có 31.318.352 nam (48,6%) và 33.093.316 nữ (51,4%); tỷ lệ tăng dân số bình quân 2,13% hằng năm.
(1-7) Hồng y Roger Etchegaray, đại diện Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II thăm Việt Nam từ ngày 1 đến 13-7. Đây là lần đầu tiên, kể từ năm 1975, một viên chức cao cấp của Toà Thánh đến viếng thăm Giáo hội Việt Nam.
(6 đến 14-12) Hội đồng Giám mục Việt Nam họp tại Hà Nội; Hội đồng bầu Ban Thường vụ mới.
1990. (16-9) Bảy điểm giữ trẻ thuộc các dòng: MTG Thủ Thiêm, MTG Tân Việt, Phaolô, Bác Ái Vinh Sơn (Bình Thạnh và Quận 3), Đức Bà Truyền Giáo (Thủ Đức) và Nazareth (Phú Nhuận) lần đầu tiên kể từ 1975 được cấp giấy phép hoạt động.
(7-11) Phái đoàn Toà Thánh do Hồng y Etchegaray dẫn đầu gồm Đức ông Claudio Celli, Thứ trưởng Ngoại giao Vatican và Đức ông Barnabê Nguyễn Văn Phương, thuộc Bộ Truyền giáo, đến Việt Nam làm việc với Chính phủ Việt Nam.
(24-11) Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II tiếp đoàn giám mục Việt Nam đi «ad limina» tại Vatican. Dịp này, ĐTC đã ngỏ lời với các thành phần Dân Chúa ở Việt Nam.
1991. (21-3) Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng ban hành Nghị định 69/HĐBT về một số chính sách đối với tôn giáo, thay thế Nghị quyết 297/CP.
(18-4) Viện Khoa học TP. HCM tái bản cuốn tự điển Việt Bồ La Annami-ticum Lusitanum-Latinum của Alexandre de Rhodes.
(28-Cool Hồng y Bernard Law, Tgm giáo phận Boston, Hoa Kỳ, thăm Việt Nam.
(25-9) Mẹ Têrêxa Calcutta thăm Việt Nam.
(31-12) Đại chủng viện Sao Biển Nha Trang khai giảng khoá I.
1992. (14-1) Phái đoàn Toà Thánh, do Đức ông Claudio Celli dẫn đầu, đến Hà Nội gặp Chính phủ Việt Nam.
(24-2) Ban Tôn giáo Chính phủ ra Thông tư số 02TT - TGCP để hướng dẫn thực hiện Nghị định 69 - HĐBT.
(15-4) Quốc hội khoá VIII thông qua hiến pháp mới của nước CHXHCN Việt Nam.
(23-6) Phái đoàn Ban Tôn giáo Chính phủ Việt Nam, do ông Vũ Quang dẫn đầu, đi Roma để trao đổi với phái đoàn Toà Thánh.
1993. (1-2) Phái đoàn Toà Thánh, do Đức ông Claudio Celli dẫn đầu, sang Việt Nam.
(15-7) Thông báo 24/TBTGCP về những quyết định của Chính phủ gửi Hội đồng Giám mục Việt Nam.
(18-10) Hội nghị Thường niên HĐGM VN họp lần đầu tiên tại TP. HCM.
1994. (1-1) Giáo phận TP. HCM khai mạc Năm Thánh kỷ niệm 150 năm thành lập.
(27-2) Thủ tướng Võ Văn Kiệt nói về một số vấn đề của Công giáo ở Việt Nam.
(13-Cool Bản dịch Thánh Kinh mới do Nhóm Phiên dịch Các Giờ Kinh Phụng vụ được ấn hành.
1995. (25-9 đến 1-10) Hội đồng Giám mục Việt Nam họp lần thứ VI. Có 26 giám mục trong cả nước tham dự và bầu Ban Thường vụ mới.
1996. (17 đến 21-1) Phái đoàn Hội đồng Giám mục Pháp, do Tgm Joseph Duval, Chủ tịch, dẫn đầu sang thăm Việt Nam.
(11-4) Khánh thành Đại chủng viện Sao Biển Nha Trang.
(12-4) Ban Thường vụ HĐGM VN họp ở Hà Nội, bàn về việc chuẩn bị Năm Thánh và phát hành Tập san Hiệp Thông.
(15 đến 28-4) Hội đồng Giám mục Việt Nam họp thường niên tại Hà Nội.
(14 đến 18-10) Phái đoàn Toà Thánh với Tgm Claudio Celli, Đức ông Celestino Migliore và Đức ông Nguyễn Văn Phương đến Việt Nam làm việc với Chính phủ.
1997. Chuẩn bị Năm Thánh 2000: chủ đề Đức Kitô hôm qua, hôm nay và mãi mãi.
(7 đến 11-10) Hội đồng Giám mục họp hằng năm, có 24 giám mục hiện diện.
1998. Chuẩn bị Năm Thánh 2000: Chúa Thánh Thần đổi mới địa cầu. Khai mạc Năm Toàn xá kỷ niệm 200 năm Đức Mẹ La Vang tại Huế.
(19-4) Khai mạc Thượng Hội đồng Giám mục Á Châu ở Roma. Thượng Hội đồng này ảnh hưởng lớn đến Á Châu và Việt Nam trong nhiều năm tới. Có 8 giám mục Việt Nam tham dự.
(24-6) Giám mục Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Thuận được bổ nhiệm làm Chủ tịch Hội đồng Giáo hoàng Công lý và Hoà bình.
(13 đến 15-Cool Đại hội kỷ niệm 200 năm Đức Mẹ La Vang ở Huế, quy tụ khoảng 150.000 người.
(11 đến 17-10) Hội đồng Giám mục họp thường niên, bầu Ban Thường vụ mới, nhiệm kỳ 1998-2001; mỗi tổng giáo phận có 1 linh mục trong Văn phòng Tổng Thư ký.
Tháng 12, Bản Tin Hiệp Thông của HĐGM VN ra số đầu tiên và chỉ phổ biến nội bộ cho các Đức cha và các vị có trách nhiệm.
1999. Chuẩn bị Năm Thánh: Thiên Chúa Cha giàu lòng thương xót.
(15 đến 19-3) Phái đoàn Toà Thánh đến thăm và làm việc với Ban Tôn giáo Chính phủ.
(19-4) Chính phủ ra Nghị định 26 về các hoạt động tôn giáo; nhiều tổ chức tôn giáo đã nêu ý kiến bất đồng.
(6-7 đến 10-Cool Tgm Gioan Baotixita Phạm Minh Mẫn cùng 3 linh mục sang thăm Hoa Kỳ.
(13 đến 15-Cool Lễ bế mạc Năm Toàn xá 200 năm Đức Mẹ La Vang và Đại hội hành hương lần thứ 25 tại Huế; có khoảng 300.000 người tham dự.
(26-8 đến 2-9) Phái đoàn Hội đồng Giám mục Hoa Kỳ thăm Việt Nam. Phái đoàn do Đức Tgm J.A. Fiorenza, Chủ tịch, dẫn đầu.
(11 đến 17-10) Hội đồng Giám mục Việt Nam họp thường niên tại Nha Trang.
(26 đến 29-10) Toạ đàm về Chữ Hiếu do toà Tổng giám mục Huế tổ chức.
(25-12) 25 giáo phận cử hành lễ khai mạc Năm Thánh 2000. Mỗi giáo phận đều có các chương trình tổ chức Ngày Năm Thánh cho từng giới, từng thành phần của cộng đoàn Dân Chúa.
2000. Năm Thánh: Tôn vinh Chúa Ba Ngôi và sống Bí tích Thánh Thể.
Giáo hội Việt Nam hoà chung niềm vui với Giáo Hội toàn cầu và thế giới vui mừng bước vào năm 2000.
(3 đến 13-1) Đoàn giám mục Việt Nam dự Hội nghị lần VII của Liên Hội đồng Giám mục Á Châu ở Samphran, Thái Lan.
(5-3) Thầy giảng Anrê Phú Yên, vị chứng nhân tiên khởi của Việt Nam (26-7-1644), được Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II tuyên phong Chân phước tại quảng trường Thánh Phêrô, Roma.
(1 đến 2-5) Họp Ban Thường vụ Hội đồng Giám mục Việt Nam ở Hà Nội.
(27-5) Tgm Jean Louis Tauran, Ngoại trưởng Toà Thánh, làm việc với ông Nguyễn Dy Niên, Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Việt Nam, tại Roma, về những vấn đề có liên quan giữa Toà Thánh và Việt Nam.
- Đoàn Giới trẻ Công giáo Việt Nam tham dự Đại hội Quốc tế giới trẻ ở Roma.
(2 đến 7-10) Hội đồng Giám mục Việt Nam họp Đại hội Thường niên tại Hà Nội. Các giám mục đã gửi thư mục vụ mời gọi toàn thể Cộng đồng Dân Chúa Việt Nam tích cực sống, làm chứng và loan báo Tin Mừng. HĐGMVN quyết định tổ chức lạc quyên trong ngày Thứ Sáu Tuần Thánh hằng năm để lập quỹ dự phòng cứu trợ thiên tai và dự định mở rộng hoạt động với một số Uỷ ban giám mục mới như: Giáo lý, Bác ái Xã hội, Văn hoá và Phúc Âm hoá.
(23 đến 27-10) Toạ đàm về Một số vấn đề về Văn hoá Công giáo Việt Nam từ khởi thuỷ đến đầu thế kỷ XX do Uỷ ban Giám mục về Giáo dân tổ chức tại toà Tổng giám mục Huế.


THẾ KỶ XXI
2001. (10 đến 12-6) Họp Ban Thường vụ HĐGM VN. Ban Thường vụ làm việc với Phái đoàn Toà Thánh.
(16 đến 22-9) Đại hội lần VIII của HĐGM VN họp tại Hà Nội. Đại hội bầu Ban Thường vụ mới và các Chủ tịch Uỷ ban Giám mục cho nhiệm kỳ 2001-2004.
(25-9) 4 giám mục Việt Nam tham dự Thượng HĐGM Thế giới tại Roma.
(29-12) Các giám mục trong Ban Thường vụ mới và Chủ tịch các Uỷ ban Giám mục họp phiên bất thường và gặp gỡ Thủ tướng Chính phủ tại Hà Nội.
2002. (14 đến 23-1) Đoàn giám mục Việt Nam đi “ad limina” gồm 28 vị.
(4 đến 11-7) Phái đoàn HĐGM VN thăm hữu nghị HĐGM Philippines. Đây là chuyến thăm chính thức đầu tiên một Giáo hội nước ngoài.
(18 đến 28-7) Đoàn Giới trẻ Công giáo Việt Nam tham dự Ngày Giới trẻ Thế giới được tổ chức tại Toronto, Canada.
(16-9) Đức Hồng y P.X. Nguyễn Văn Thuận, Chủ tịch Hội đồng Toà Thánh về Công lý và Hoà bình, từ trần tại Roma. Thánh lễ an táng do chính Đức Thánh Cha chủ sự.
(7 đến 11-10) HĐGM VN họp Hội nghị Thường niên lần XXIII tại Hà Nội.
2003. (6-1) Đức Thánh Cha chủ sự thánh lễ phong chức giám mục cho Tổng Giám mục Phêrô Nguyễn Văn Tốt, Tân Sứ thần Toà Thánh tại Togo và Benin (châu Phi). Đây là vị Sứ thần Toà Thánh đầu tiên người Việt Nam.
(22 đến 26-1) Đoàn đại biểu Việt Nam gồm 6 tổng giám mục và giám mục, 3 linh mục và 23 giáo dân tham dự Hội nghị Quốc tế về Gia đình lần IV được tổ chức tại Manila, Philippines.
(11-6) Lễ tấn phong Giám mục Dom. Mai Thanh Lương, giám mục phụ tá giáo phận Orange, California, Hoa Kỳ. Đây là vị giám mục Việt Nam đầu tiên tại Hoa Kỳ.
(6 đến 11-10) Hội nghị Thường niên lần XXIV của HĐGM VN họp tại Bãi Dâu, Vũng Tàu.
(21-10) Đức Thánh Cha phong Hồng y cho Đức cha G.B. Phạm Minh Mẫn, Tổng Giám mục giáo phận TP. HCM.
(7 đến 14-11): Phái đoàn HĐGM VN thăm hữu nghị HĐGM Hoa Kỳ. Đôi bên nâng cao tình hiệp thông và liên đới.
2004. (15-6) Văn phòng Tổng Thư ký HĐGM VN xuất bản cuốn Niên Giám Giáo hội Công giáo Việt Nam lần đầu tiên sau nhiều năm gián đoạn, kể từ năm 1964.
(tháng Cool Đoàn đại biểu HĐGM VN tham dự Đại hội Liên Hội đồng Giám mục châu Á lần VIII tại Hàn Quốc, với chủ đề Gia đình châu Á hướng về nền văn hoá sự sống toàn diện. Đây cũng là mục vụ thăng tiến gia đình của HĐGM VN trong 4 năm (2004-2008) để hoà nhập với cộng đồng Giáo hội châu Á.
(27-9 đến 1-10) Đại hội lần IX của HĐGM VN diễn ra tại Hà Nội. Đại hội tổng kết Năm Thánh Truyền giáo và bắt đầu Năm Thánh Thể.
(tháng 10) Dân số Việt Nam đạt mức kỷ lục (82 triệu người) mở ra cho Giáo hội Việt Nam nhiều vấn đề về gia đình.

(mình viết tóm tắt từ khi Đạo Chúa đến cho đến hiện tại nhé, vì không có nhiều thời gian nên không viết chi tiết hết được, nếu ban Hau Ka muốn có đầy đủ chi tiết hơn thì có thể đến nhà sách Đức Mẹ-DCCT, hoặc Tòa Tổng Giám Mục để kiếm sác, nếu khó tìm quá thì nhờ các Soeur đang phụ giúp xứ nhé.)

kenny

Tổng số bài gửi : 74
Join date : 27/07/2011
Đến từ : Manila

Xem lý lịch thành viên

Về Đầu Trang Go down

Re: cho em xin

Bài gửi  vincent_haivu on Mon Aug 15, 2011 12:39 pm

anh Kenny that chu dao'' cam on anh Kenny nhieu.....

vincent_haivu

Tổng số bài gửi : 51
Join date : 21/07/2011
Age : 23
Đến từ : tphcm

Xem lý lịch thành viên

Về Đầu Trang Go down

Re: cho em xin

Bài gửi  hauka on Tue Aug 16, 2011 9:17 am

Cam on a K nhieu nha! Smile

hauka

Tổng số bài gửi : 20
Join date : 03/08/2011

Xem lý lịch thành viên

Về Đầu Trang Go down

Re: cho em xin

Bài gửi  nhoktuong on Tue Aug 16, 2011 7:31 pm

anh ken oi em sap kan^. ruj`

nhoktuong

Tổng số bài gửi : 18
Join date : 08/07/2011
Age : 21
Đến từ : ho chi minh

Xem lý lịch thành viên

Về Đầu Trang Go down

Re: cho em xin

Bài gửi  kenny on Wed Aug 17, 2011 8:07 pm

thỉnh thoảng nhoktuong ghi nhiều chữ của thế hệ teenager nên anh không hiểu lắm, hãy viết rõ tiếng Việt nhé, để anh hiểu dễ hơn để trả lời cho mọi người.

kenny

Tổng số bài gửi : 74
Join date : 27/07/2011
Đến từ : Manila

Xem lý lịch thành viên

Về Đầu Trang Go down

Re: cho em xin

Bài gửi  Sponsored content Today at 9:20 pm


Sponsored content


Về Đầu Trang Go down

Xem chủ đề cũ hơn Xem chủ đề mới hơn Về Đầu Trang


 
Permissions in this forum:
Bạn không có quyền trả lời bài viết